(hovuvovietnam.com) - Làng Phượng Lâu xưa - Thời Hùng Vương gọi là trang Phượng Lâu thuộc Bộ Văn Lang (nay là tổ dân phố Phượng Lâu, phường Vân Phú, tỉnh Phú Thọ). Trải qua bao biến cố của lịch sử và tác động của thiên nhiên, làng Phượng Lâu vẫn trường tồn trong vùng đất tổ Hùng Vương. Theo truyền thuyết, Vua Hùng đã kinh lý đến đây thấy giải đất đẹp từ Phượng Lâu đến Trưng Vương lập thành cánh cung nên đất Phượng Lâu còn gọi là “Thượng Lầu”.
Tượng Đông Nhung Bát Nàn Đại tướng quân Vũ Thị Thục (17 - 43).
Thời nhà Hán đô hộ, Phượng Lâu là một trang ấp lớn dưới quyền cai quản của ông Vũ Công Chất và bà Hoàng Thị Mầu. Ngoài công việc nông trang ông bà còn biết nhiều bài thuốc quý chữa bệnh cho dân nên được dân chúng khắp vùng mến phục. Ngày 15 tháng 8 năm Tân Sửu (Năm 17 sau Công nguyên), ông bà sinh được người con gái đặt tên là Vũ Thị Thục. Càng lớn Vũ Thị Thục càng xinh đẹp, tài trí, thông minh, lanh lợi hơn người nên tục gọi là Thục Nương. Năm 16 tuổi nhan sắc như đoá hoa phù dung buổi sớm, sách đọc một lần là thuộc, kiếm múa như gió thổi hoa bay. Ra ngoài ai cũng tôn là “nữ tiên hạ thế ”. Nàng và các bạn cùng trang lứa thường xuyên bơi thuyền, bơi chải, hát đối đáp với các trai làng trên sông Lô thuở ấy.
Thục Nương là người tài đức, có võ nghệ cao cường, lại có dung nhan xinh đẹp. Đến tuổi trưởng thành, Thục Nương hứa hôn với Pham Danh Hương là Quận trưởng Nam Chân. Không ngờ Thái thú Tô Định là kẻ háo sắc, biết Thục Nương xinh đẹp, hắn mời Vũ Công Chất vào kinh để cầu thân và chiếm đoạt con gái. Cụ Vũ Công Chất từ chối vì con gái đã hứa hôn. Tô Định không tin, lệnh gọi cha con Phạm Danh Hương vào yết kiến, ép phải từ hôn. Phạm Danh Hương từ chối. Tô Định nổi giận đánh chết cả 3 người và cho quân về trang Phượng Lâu bắt Thục Nương về dinh làm vợ. Nhưng người thân tín theo ông Vũ Công Chất vào dinh Tô Định đã nhanh chân chạy về báo trước. Thục Nương vô cùng căm giận quân Hán đã thu xếp cho mẹ và gia quyến tìm nơi ẩn náu, còn mình ở lại chờ giặc đến.
Khi quân Tô Định đến nơi Thục Nương múa song kiếm xông ra, tên cầm đầu cùng một số tên bị giết. Những tên còn lại hoảng hốt bỏ chạy. Đợi trời tối Thục Nương lẻn ra sông lấy thuyền dùng đôi kiếm làm mái chèo bơi xuôi theo dòng sông lánh nạn. Sau một ngày, một đêm thuyền dạt vào ấp Tiên La bên bờ sông Thiên Đức (thuộc địa phận huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình cũ, nay là xã Tiên La, tỉnh Hưng Yên) vào ẩn náu trong ngôi chùa nhỏ... Sau khi nghe Thục Nương kể về gia cảnh rồi cuối cùng nàng nói: “Làm con không rửa được thù cho cha, làm vợ không trả thù được cho chồng, làm dân không báo được thù nước sao có thể sống mà không hổ thẹn.”. Nghe xong mọi người đều căm giận giặc Hán, nhất tề xin nàng ở lại đây để chờ thời cơ giết giặc. Thục Nương cải trang đi tu ở chùa làng và là vị sư nữ đạo cao, đức trọng, tâm trí luôn nung nấu đến nợ nước, thù nhà. Vốn là người có võ nghệ cao cường, lại tinh thông về nhiều trận pháp. Thục Nương bắt tay vào việc tập luyện võ nghệ, trận pháp cho dân làng, các làng xung quanh biết tin kéo đến mỗi lúc một đông xin về tụ nghĩa. Lực lượng lên đến hàng ngàn người được trang bị khí giới đầy đủ, lại tinh thông võ nghệ, trận pháp, Thục Nương phất cờ khởi nghĩa, được dân chúng tôn xưng là “Bát Nàn Tướng quân”. Đạo quân của Bát Nàn lập đàn tế trời rồi tiến đánh giặc Hán giải phóng được Tiên La và một số vùng lân cận đến bờ biển Thái Bình.
Khi đó, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở Mê Linh, cho sứ giả đi khắp nơi truyền lệnh khởi nghĩa và cử công chúa Bảo Hoa về Tiên La mời Thục Nương tụ nghĩa. Nàng còn đang lưỡng lự chợt nghĩ đến giấc mộng đêm trước “nữ thần” tuân lệnh Ngọc Hoàng xuống trao cho bà lá cờ xanh rồi đọc 4 câu thơ:
“Nữ binh - Nữ tướng,
Thiên dĩ - Định danh,
Vật khả - độc lập;,
Sự nãi bất thành”.
Tạm dịch là:
Tướng gái - Quân gái,
Trời đã định danh,
Chớ đứng một mình,
Việc không thành được.
Nghĩ đến việc quốc gia đại sự - Giang sơn một mối, Thục Nương tập hợp binh sĩ tiến về Mê Linh tụ nghĩa. Tới nơi Trưng Nương duyệt quân và phong chức là “Đốc Lĩnh tiền môn” (Tướng tiền phong). Hiệu là “Đông Nhung Đại tướng” cùng quân dân tế cờ ra trận đánh giặc. Tô Định thất bại, chạy chốn về nước.
Nước nhà độc lập, Trưng Vương lên ngôi, phong Thục Nương là “Bát Nàn Đại tướng quân - Trinh thục công chúa" cho hưởng thực ấp và quản lĩnh cả hai nơi là Tiên La (Thái Bình) và Phượng Lâu (Phú Thọ). Thục Nương được vua ban cho xe loan, quân hầu, thị nữ, cùng vàng bạc, ngọc, lụa là về xây dựng công sở tại Phượng Lâu. Nàng tổ chức tế cha, tế chồng. Nhân dân các trang đến chúc mừng, mở hội với các trò: Bơi chải, đánh vật, hát đúm, tung cầu... Sau đó, Thục Nương trở lại Tiên La.
Mùa xuân năm Quý Mão (43), Hán Vũ Đế sai Mã Viện cầm quân sang đánh đất Giao Chỉ. Trưng Vương giao cho Thục Nương cầm quân đuổi giặc chạy về nước. Lập được chiến công, vua ban cho làm “Điển trưởng nội thị phu nhân”, được ra vào nơi cung điện và cho phép về nghỉ thăm quê hương. Một hôm vào dịp dân làng đang mở Hội - ăn tiệc, được tin báo: Mã Viện kéo quân sang xâm lược đất Giao Chỉ một lần nữa. Thục Nương tạm biệt quê hương ra trận. Sau trận ở Lãng Bạc (Hồ Tây), Hai Bà Trưng rút về Cẩm Khê còn Bát Nàn rút quân về Tiên La trấn thủ. Giặc tiến đánh Tiên La khép kín vòng vây, tình thế nguy cấp, Thục Nương vẫn anh dũng chiến đấu quyết tử, quyết sinh phá vòng vây lui về gò Kim Quy vung gươm giết thêm nhiều tên giặc rồi nàng tự sát để bảo vệ toàn danh tiết, đó là ngày 18 tháng 3 năm Quý Mão (tức là năm 43 dương lịch - thế kỷ thứ nhất). Năm đó nữ tướng chưa đầy 26 tuổi. Từ đó đến nay, ngày 18/3 (âm lịch) là ngày giỗ kỷ niệm ngày mất của “Đông nhung Bát Nàn Đại tướng quân” Vũ Thị Thục.

Đền Bát Nàn tại Phượng Lâu (Phú Thọ), nơi thờ Đông Nhung Bát Nàn đại tướng quân Vũ Thị Thục.
Qua các triều đại, Thục Nương được phong:
+ Trưng Vương:
“Bát Nàn Đại tướng quân - Trinh Thục công chúa”
“Đông Nhung Đại tướng quân”
+ Vua Lê Thánh Tông sắc phong: “Y đức đoan trang Trinh thục công chúa”
+ Thời nhà Nguyễn:
Vua Minh mạng phong sắc: “Dục bảo Trung hưng - Linh phù chí thần”
+ Vua Khải Định sắc phong : “Dục bảo Trung hưng linh phù Thượng đẳng
thần”.
Năm 2012, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có gửi Thiếp chúc mừng nhân Lễ tôn vinh Bà Tổ Mẫu Vũ Thị Thục. Đây là sự kiện rất ý nghĩa vì chữ ký Thiếp chúc mừng là một trong những chữ ký cuối cùng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi Đại tướng về với các bậc tiên tổ (30/8/2013 âm lịch) nhằm tôn vinh, tri ân nữ Anh hùng dân tộc Vũ Thị Thục.

Thiếp chúc mừng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chúc mừng Lễ tôn vinh Bà Tổ Mẫu Vũ Thị Thục tại đền Tiên La (Hưng Hà, Thái Bình).
Vì khi cầm binh đuổi giặc, từ cửa sông Đáy về ngã ba sông Nông, Bà thường cai quản 18 cửa ngàn, nên tục gọi Bà là Thượng ngàn. Cảm kích công đức và trí khí oai hùng của trang liệt nữ, đời sau vinh phong cho bà là “Mẫu Thượng ngàn tái thế”. Và ngôi chùa mà Bà ở tu, sách chép là chùa Nam Liên ở trên núi, nên tục cũng gọi Bà là sư nữ Nam Liên. Trong tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Bà thuộc hàng Chầu Bát.
Dân làng Tiên La lập đền thờ Mẫu được liệt vào hàng “Tứ linh từ” của Phủ Tiên Hưng xưa. Hàng năm, từ 10 đến 18 tháng 3 (âm lịch), mọi người thập phương tìm về giỗ Mẫu và tham gia tổ chức lễ hội. Những nơi Bà đã hành quân qua: Hưng Yên, Lạng Sơn, Hà Giang, Hải Phòng và cả ở Quảng Đông, Hồ Nam (Trung Quốc) nhân dân lập đền thờ. Riêng quê hương Phượng Lâu lập miếu thờ dưới gốc cây Đa cổ thụ, hàng năm dân làng hương khói, thờ phụng và tổ chức giỗ, tế dâng hương từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 18 tháng 3 (âm lịch)./.
Bài và ảnh: NGUYỄN XUÂN MAI, VŨ XUÂN KIÊN
|